Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

 

Đánh giá dự án Khoáng sản



Đánh giá dự án là quá trình xác định tính khả thi về kinh tế của một dự án có yêu cầu đầu tư vốn, từ đó đưa ra quyết định có nên đầu tư hay không. Các nội dung được trình bày trong cuốn sách này có thể áp dụng cho mọi loại dự án cần đưa ra quyết định đầu tư. Tuy nhiên, trọng tâm của cuốn sách là các dự án khoáng sản, vốn thường có những khó khăn đặc thù trong công tác đánh giá.

Các dự án khoáng sản phức tạp thường chứa đựng nhiều yếu tố không chắc chắn, xuất phát từ chính bản chất của công tác ước tính trữ lượng địa chất, những khó khăn lớn trong việc dự báo giá hàng hóa khoáng sản và chi phí sản xuất, thời gian đánh giá dài khiến các điều kiện kinh tế và công nghệ có thể thay đổi, các chi phí liên quan đến quy định pháp luật và môi trường còn nhiều bất định, và trong nhiều trường hợp, tuổi thọ dự án rất dài. Vì vậy, cần tiến hành đánh giá một cách thận trọng, thậm chí sử dụng nhiều phương pháp đánh giá khác nhau, để có được cơ sở đáng tin cậy cho quyết định đầu tư vào dự án khoáng sản.

Ngoài những yếu tố trên, một số vấn đề mang tính tổng quát cũng rất quan trọng. Một phương pháp đánh giá phải có khả năng dự đoán diễn biến hoạt động của dự án trong tương lai cũng như hành vi của thị trường trong tương lai, nếu muốn tạo ra kết quả chính xác.

Bên cạnh đó — mặc dù điều này có vẻ hiển nhiên — bất kỳ phương pháp đánh giá nào cũng phải được sử dụng đúng cách. Trên thực tế, các phương pháp đánh giá bị sử dụng sai với một tỷ lệ đáng ngạc nhiên. Cuối cùng, dữ liệu và kết quả thu được từ quá trình đánh giá cũng phải được diễn giải chính xác, đây lại là một nhiệm vụ không đơn giản. Việc hiểu sai kết quả đánh giá thường dẫn đến những quyết định sai lầm.

Mục đích của cuốn sách

Mục đích của cuốn sách là cung cấp một tài liệu tham khảo cho:

  • Những người đã có kinh nghiệm hoặc mới bắt đầu thực hiện đánh giá dự án;
  • Các nhà quản lý, nhà đầu tư và người ra quyết định, những người cần sử dụng kết quả đánh giá nhưng không trực tiếp thực hiện công tác đánh giá.

Cuốn sách tập trung vào các khái niệm trong đánh giá dự án khoáng sản hơn là các chi tiết tính toán.

Các kỹ thuật đánh giá kinh tế thường được sử dụng được trình bày, bao gồm:

  • Phân tích chi phí truyền thống;
  • Phân tích dòng tiền chiết khấu (Discounted Cash Flow – DCF);
  • Phân tích quyền chọn (Option Analysis).

Cuốn sách cũng trình bày cách các phương pháp này được sử dụng và mối quan hệ của chúng với:

  • Đánh giá địa chất;
  • Đánh giá công nghệ;
  • Đánh giá tài chính.

Ngoài ra, các kỹ thuật ra quyết định thường được sử dụng cũng được trình bày. Các định nghĩa, công thức và ví dụ tính toán bổ sung được đưa vào các phụ lục.

Cần đặc biệt lưu ý đến những hạn chế của phương pháp đánh giá

Cuốn sách phân tích cả ưu điểm và nhược điểm của các phương pháp đánh giá phổ biến. Điều quan trọng nhất là phải nhận thức rõ những hạn chế của các phương pháp này.

Có một nguy cơ đáng kể là người sử dụng quá tin tưởng vào kết quả đánh giá dự án.

Mặc dù năng lực tính toán hiện nay cho phép thực hiện các phép tính với độ chính xác rất cao, nhưng kết quả cuối cùng vẫn có thể sai hoặc gây hiểu nhầm vì nhiều nguyên nhân khác nhau.

Tuy vậy, các phương pháp đánh giá được trình bày trong sách vẫn là những công cụ tốt nhất hiện có và được sử dụng phổ biến. Khi được áp dụng đúng cách, chúng là những công cụ mạnh giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư.


Nội dung và điểm khác biệt của cuốn sách

Cuốn sách được phát triển từ các bài giảng về đánh giá dự án khoáng sản và ban đầu được xây dựng như tài liệu bổ trợ cho các khóa học của tác giả.

Các giáo trình hiện có thường trình bày khá chi tiết về:

  • Chiết khấu dòng tiền;
  • Phân tích dòng tiền.

Tuy nhiên, chúng chưa mô tả đầy đủ:

  • Những khó khăn thực tế khi tiến hành một phân tích;
  • Cách diễn giải kết quả;
  • Việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá thay thế.

Ý nghĩa và cách sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư (merit measures) như:

  • NPV – Giá trị hiện tại thuần (Net Present Value);
  • IRR – Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (Internal Rate of Return);

cũng như các phương pháp phân tích như phân tích xác suất, chưa được trình bày đầy đủ trong nhiều giáo trình.

Ngoài ra, mối liên hệ giữa xác định giá trị dự án và quá trình ra quyết định đầu tư cũng thường chưa được thảo luận đầy đủ.

Cuốn sách khác với nhiều tài liệu hiện có ở chỗ trình bày các nội dung sau:

Nội dungÝ nghĩa chính
NPV và IRRVì sao cả NPV và IRR đều là các chỉ tiêu hợp lệ và hữu ích
NPV/IRR truyền thốngNhững hạn chế của phân tích NPV và IRR thông thường
Scenario AnalysisNhững rủi ro khi sử dụng phân tích kịch bản
IRRVì sao không cần phân tích gia tăng (incremental analysis) theo cách truyền thống để tính IRR một cách chính xác
NPV-consistent IRRVì sao mong muốn có IRR nhất quán với NPV có thể dẫn đến cách hiểu sai
Probabilistic AnalysisCách sử dụng phân tích xác suất kết hợp với lý thuyết sở thích/rủi ro
Competitive Cost AnalysisCách thực hiện và sử dụng phân tích chi phí cạnh tranh
Option PricingVì sao định giá quyền chọn là một phần quan trọng bổ sung cho quá trình đánh giá
NPV-related measuresVì sao các chỉ tiêu liên quan đến NPV cũng có những hạn chế tương tự các chỉ tiêu liên quan đến IRR

Vị trí của cuốn sách trong hệ thống tài liệu

Ấn phẩm này được xây dựng như:

Nguồn tài liệu tham khảo cho người ra quyết định và giáo trình bổ trợ cho các khóa học về đánh giá dự án.

Mặc dù cuốn sách trình bày chi tiết nhiều chủ đề và bao quát phạm vi rộng, các nội dung chuyên sâu hơn về chiết khấu và phân tích dòng tiền có thể tìm thấy trong nhiều giáo trình về kinh tế kỹ thuật khác.

Các tài liệu của UNIDO cũng đề cập cụ thể đến việc đánh giá các dự án công nghiệp và dự án xã hội.

Các tài liệu chuyên về đánh giá tài chính dự án khoáng sản cũng được tác giả tham khảo, cùng với các tài liệu về:

  • Kỹ thuật định giá;
  • Phương pháp ra quyết định dựa trên kết quả đánh giá;
  • Lý thuyết lựa chọn trong điều kiện rủi ro và bất định.

Cấu trúc của cuốn sách

Chương 1 trình bày tổng quan về quá trình đánh giá dự án, bao gồm:

  • Mục tiêu;
  • Các ràng buộc;
  • Mục đích sử dụng kết quả đánh giá.

Chương 2–7 tập trung vào:

  • Đo lường giá trị dự án;
  • Vai trò của nhận thức của nhà đầu tư về rủi ro trong đánh giá dự án.

Chương 8 trình bày:

  • Các bước thường cấu thành một quá trình đánh giá dự án;
  • Những sai sót có thể xảy ra;
  • Các kết luận và nhận xét.

Phụ lục A cung cấp:

  • Các công thức đơn giản hóa;
  • Các phép suy diễn;
  • Các ví dụ tính toán.

Phụ lục B trình bày các kỹ thuật định giá quyền chọn, do Giáo sư Graham Davis thuộc Colorado School of Mines biên soạn.

Phụ lục C trình bày về certainty equivalence – tương đương chắc chắn, do Giáo sư Michael Walls thuộc Colorado School of Mines biên soạn.

Cuối sách có bảng thuật ngữ về các thuật ngữ thường sử dụng trong đánh giá dự án.

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

 Tạo bản đồ sử dụng đất trên QGIS.

Case study: Có bản đồ loại đất, thuộc tính loại đất dạng shapefile: làm sao để hiển thị đúng màu sắc như này?



LoaiDatMàu
LUARGB(255,252,130)
LUCRGB(255,252,140)
LUKRGB(255,252,150)
CLNRGB(255,210,160)
RPHRGB(190,255,30)
RDDRGB(110,255,100)
RSXRGB(180,255,180)
SKSRGB(205,170,205)
DGTRGB(255,170,50)
DTLRGB(170,255,255)
SONRGB(160,255,255)
NTDRGB(210,210,210)


 Sau một hồi tìm kiếm, chatgpt cũng không thấy style QGIS nào cho việc biểu diễn loại đất theo trường Loaidat (địa chính và lâm nghiệp), mình phải tự làm tay bộ style màu loại đất này theo đúng quy định trong Thông tư số 08/2024/TT-BTNMT quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất.





Thế là tiết kiệm bao công lao động cho cộng đồng rồi! các Qgiser chỉ việc tải về và load style là xong!


Link tải ở đây! Style bản đồ đất đai, trường mặc định để tên "LOAIDAT".
Style bản đồ sử dụng đất trên QGIS.


Thứ Hai, 22 tháng 6, 2026

 Case study: Có 1 tập số liệu, tạm gọi là điểm (point), trong đó có trường về hàm lượng (hoặc gì đó) cần biểu diễn lên bản đồ.

- Yêu cầu: biểu diễn các số liệu hàm lượng này theo 1 bán kính xác định (vd 1mm, 10mm .v.v).

- Như vậy, nếu có 1000 số liệu mà hàm lượng khác nhau thì sẽ có 1000 cái point kích thước khác nhau, nhưng cần chia chính xác theo kích thước cụ thể. VD: điểm hàm lượng 100 sẽ to gấp 2 lần điểm hàm lượng 50.

Vào property của lớp point đó, chuyển tới mục symbology, chọn mục single symbol như ảnh.



Bấm vào phần bôi vàng ở góc trên bên phải để mở mục Edit/ mở cửa sổ Expression builder như trên, sau đó nhập công thức vào:

Hàm thay đổi bán kính của điểm (point) theo kích thước cố định (đơn vị mm)

X * "TS" / aggregate( @layer, 'max', "TS" )

X: là số mm đường kính lớn nhất của tập số liệu (X = 1, 10, 20, hoặc bất kỳ), nếu X=1 thì mặc định đường kính lớn nhất là 1mm.

Tất nhiên có cả hàm cho đường kính "min" hoặc con số chặn "min - max" đối với đường kính point. Cái này các bạn tự google ra nhé.!

"TS": tên trường chứa số liệu hàm lượng cần biểu diễn.

Sản phẩm ra dạng kiểu như này!



Thứ Năm, 14 tháng 5, 2026

 Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ được tái bản lần 3 tại nhà in Lê Văn Tân - Hàng Bông, Hà Nội năm 1927, tới nay đã gần 100 năm, các đồng tác giả đã trở về thiên cổ từ lâu. Theo luật bản quyền thiên niên kỷ cũng được đưa vào giấy phép miền công cộng để mọi người được đọc mà không bị bản quyền ngăn cấm.


Tôi cảm thấy nội dung sách tuy đã cũ nhưng cũng chứa đựng nhiều tri thức, điển tích, địa danh, thắng cảnh cổ đáng để tham khảo cho tới tận ngày nay. Đặc biệt có đoạn dẫn của cụ Phạm Quỳnh, đọc mà thấm:



Phần phụ chép sự tích danh lam, thắng cảnh cũng khá hay và bổ ích cho đời sau.
Phần địa đồ cũng được làm cẩn thận, rõ ràng.


Ai quan tâm có thể tìm đọc!



Thứ Tư, 8 tháng 4, 2026

 Nhật Bản, họ đã cho tải miễn phí bản đồ địa chất tỷ lệ 1: 200.000 cả nước Nhật.

Link tải:  Nhớ chọn vào Raster data (GeoTIFF, kml / 200dpi)




 QGIS ứng dụng được rất nhiều lĩnh vực, kể cả làm các bản đồ để minh họa trong sách giáo khoa.

Các bạn cần QGIS làm gì, hãy liệt kê ra nhé, xem QGIS có làm được không?

1. Ngoài tạo bản đồ đường bình độ kiểu line, nó còn tạo được dạng vùng phân cấp theo màu (Contour Polygon) như thế này:

Bản đồ này ứng dụng làm được bản đồ đẳng dày (lớp phủ, đới phong hóa v.v.), tiếng Anh là Isopatch Map

2. QGIS có thể tạo bản đồ miền chia nước (phân thủy) hay Catchment area map (từ mô hình DEM):

 3. Tạo bản đồ độ dốc, phân loại độ dốc (từ DEM) v.v...


4. Tạo GeoPDF, GeoImage (ảnh gắn sẵn tọa độ)
Cái này đã nói trong 1 bài viết gần đây. Rất đơn giản sau khi tạo xong layout thì nhớ chọn đuôi tif (hoặc tiff) hoặc PDF, rồi tick chọn Generate world file là nó gắn tọa độ vào file ảnh hoặc PDF sau khi tạo ra.
Cái này ứng dụng để xuất cả ảnh vệ tinh của 1 vùng mà gắn sẵn tọa độ (để mở được trên Mapinfo hoặc Arcgis hay gì đó)


5. Tạo bản đồ địa chất (rất khó vì hệ thống ký hiệu nhiều, địa tầng, tuổi phức tạp)


Khó thế mà còn làm được thì có gì là không thể?

6. Tạo bản đồ 3D hiệu ứng đẹp


7. Mở dữ liệu từ flycam (laz file, cloud points)

Note: những chỗ có link màu xanh tham khảo là nguồn bài viết hướng dẫn, cứ mạnh dạn click nhé. Tôi không hề gắn link kiếm tiền gì đó đâu.


Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

Bản đồ địa chất nước Anh (UK) online cho người dùng xem thỏa mái.

Tỷ lệ bản đồ cỡ 1:250.000


 Link vào xem: https://geologyviewer.bgs.ac.uk/

Ngoài ra, trang còn cho tải về file bản đồ đệ tứ cùng tỉ lệ.

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2026

 GeoImage, GEOPdf là thuật ngữ dùng để chỉ 1 file bản đồ dạng ảnh hoặc dạng PDF đã được tích hợp sẵn hệ quy chiếu tọa độ. Đơn giản là ta không phải đăng ký tọa độ cho chúng mà vẫn mở được trên Mapinfo hay QGIS, đúng vị trí bản đồ.

QGIS tích hợp sẵn 2 loại ảnh tích hợp tọa độ thường đuôi *.tif hoặc tiff, PDF thì vẫn là PDF thôi. Nhưng lúc xuất file trong layout ta tick vào ô Generate world file là được.


Mapinfo thì lại không xuất trong layout nhé.

  • In PDF trực tiếp từ cửa sổ bản đồ (Map Window), không in từ cửa sổ Layout.

    Raster phải cùng hệ tọa độ (projection) với hệ tọa độ mong muốn khi in.

    Thiết lập raster tại: Map > Options > Image Processing > Optimized.

    Đảm bảo không có bảng dữ liệu (tables) hoặc raster nào khác đang mở trước khi in PDF.

  • Vào FIle/ Save window as ... Chọn đuôi ảnh là tif, độ phân giải tăng lên cho nét. và tích vào ô kiểm đầu tiên (xem ảnh).

  • Chúc thành công@!

  • Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2026

     QGIS Tips #7 sẽ nói về việc làm sao tìm và thay thế chuỗi ký tự trong bảng dữ liệu thuộc tính của QGIS.



    Find and replace in QGIS ra sao?

    Ứng dụng để thay thế 1 chuỗi ký tự giống nhau trong 1 hàng (vd tên vùng quá dài, muốn viết tắt ngắn lại - để label cho đẹp!)

    Bước 1:

    Đầu tiên, bật biên tập cho lớp đó và mở Field Calculator ở phía trên cùng của ô Open Attributes table;


    - Đặt tên cho cột mới cần tạo (là cột trả về kết quả sau khi thay thế text)
    Vào ô search tìm hàm: Replace. 

    Bước 2: 

    Nhập lệnh vào ô Expression như sau:

    replace("MES_TIP", 'T', 'Rock')

    Trong đó, cần thay "MES_TIP": tên cột chứa tên cần thay thế, 'T' : chuỗi cần thay; 'Rock': chuỗi sẽ được thay thế.


    Bấm OK và xem kết quả!

    Tham khảo: https://gis.stackexchange.com/

    Nếu thấy nội dung blog hữu ích, các bạn cũng có thể mời mình 1 ly cafe!




    XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN MỌI ĐÓNG GÓP!

    Thứ Tư, 10 tháng 12, 2025

     “Draping elevation trong QGIS” là quá trình gán giá trị Z (độ cao) từ mô hình số độ cao (DEM) cho các đối tượng vector 2D (điểm/đường) để tạo dữ liệu 3D phục vụ hiển thị hoặc phân tích không gian.

    Nội dung chính:

    • Sử dụng công cụ Drape (hoặc v.drape của GRASS) để:

      • Gán cao độ cho điểm (points)

      • Gán cao độ cho đường (lines)

    • Với mục đích hiển thị trực quan hoặc để lấy cao độ cho công trình từ địa hình (cao độ lỗ khoan, mốc):

    • Quy trình làm việc:

    1. Nạp DEM và lớp dữ liệu vector vào QGIS

    2. Dùng Processing Toolbox, gõ tìm lệnh: drape để:

      • Trích xuất giá trị cao độ từ DEM

      • Gán giá trị Z cho điểm/đường


    1. Sau khi bấm chạy lệnh Drape thì QGIs sẽ tạo ra 1 lớp mới chứa giá trị trường độ cao đã gán từ DEM (lớp này giống hệt thuộc tính lớp vertor ban đầu, khác mỗi sẽ có độ cao Z gán). Ta cần làm 1 bước nữa để show cột độ cao này ra. 
    Tạo 1 trường mới vd: Z_drape (dicemal, 2 chữ số sau dấu ","), và gán 1 hàm lấy cao độ:

    z(start_point($geometry))


    Hình trên là dùng Field calculator để tạo field và nhập hàm luôn.
    Bạn có thể dùng lồng hàm round() để làm tròn số cho cao độ.
    Sau bấm OK, lưu lại và kiểm tra đã lên cao độ chưa thôi.

    1 ứng dụng khác nữa là để view trên 3D cho đường địa hình bám sát bề mặt:

    1. Mở 3D Map View

      • Thiết lập DEM làm lớp địa hình

      • Cho phép các lớp dữ liệu “bám” theo bề mặt địa hình

    Kết quả:

    • Các lớp dữ liệu 2D được “draped” (ép bề mặt) theo địa hình

    • Hiển thị mô hình địa hình 3D trực quan, sát thực tế hơn cho phân tích và trình bày.







    Thứ Tư, 26 tháng 11, 2025


    Bộ tem giới thiệu vẻ đẹp của 3 công viên địa chất toàn cầu UNESCO tại Việt Nam


    Nhằm giới thiệu những giá trị và nét đẹp đặc trưng của các công viên địa chất toàn cầu UNESCO tại Việt Nam, Bộ TT&TT đã phát hành bộ tem “Công viên địa chất toàn cầu” gồm 3 mẫu tem và 1 mẫu bloc, giá mặt 4.000đ, 4.000đ, 8.000đ và 15.000đ.

    Công viên địa chất toàn cầu là một khu vực tự nhiên có ranh giới địa lý - hành chính rõ ràng, chứa đựng tập hợp các di sản địa chất và cảnh quan tầm cỡ quốc tế có giá trị khoa học, giáo dục, phát triển bền vững, cùng các giá trị khác về đa dạng sinh học, khảo cổ, lịch sử, văn hóa, xã hội và có diện tích lớn để phát triển kinh tế địa phương, thông qua hình thức phát triển du lịch và các dịch vụ phụ trợ khác được Tổ chức UNESCO công nhận.

    Tại Việt Nam, UNESCO đã vinh danh 03 công viên địa chất toàn cầu, đó là: công viên địa chất toàn cầu UNESCO cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang) (năm 2010); công viên địa chất toàn cầu UNESCO non nước Cao Bằng (năm 2018) và công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông (năm 2020).



    Mẫu tem 3-1 giới thiệu “Công viên địa chất toàn cầu UNESCO cao nguyên đá Đồng Văn”: được UNESCO công nhận ngày 03/10/2010, nằm ở vùng núi cực Bắc của Việt Nam, có diện tích 2.356,8 km² và độ cao trung bình khoảng 1.400 - 1.600 (m).

    Cao nguyên có nhiều khu vực núi đá vôi nằm sát chí tuyến Bắc, có độ dốc khá lớn, các thung lũng, sông, suối bị chia cắt rất nhiều, là một trong những vùng đá vôi đặc biệt, chứa đựng những dấu ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển vỏ trái đất, những hiện tượng tự nhiên, cảnh quan đặc sắc về thẩm mỹ, tính đa dạng sinh học cao và truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng cư dân bản địa.



    Mẫu tem 3-2 giới thiệu “Công viên địa chất toàn cầu UNESCO non nước Cao Bằng”: được UNESCO công nhận ngày 12/4/2018, công viên có diện tích hơn 3.275 km2 nằm tại vùng đất địa đầu của Việt Nam thuộc tỉnh Cao Bằng, bao gồm các huyện Hà Quảng, Trà Lĩnh, Quảng Uyên, Trùng Khánh, Hạ Lang, Phục Hòa và một phần diện tích của các huyện Hòa An, Nguyên Bình và Thạch An. Đây là nơi sinh sống của hơn 250.000 người thuộc 9 dân tộc của Việt Nam như Tày, Nùng, H'Mông, Kinh, Dao, Sán Chay.

    Ngoài ra, đây cũng là vùng đất có bề dày văn hóa, lịch sử với hơn 215 di tích văn hóa, lịch sử được xếp hạng, trong đó có 3 di tích quốc gia đặc biệt là rừng Trần Hưng Đạo, Khu di tích Pác Bó và di tích lịch sử địa điểm chiến thắng Biên giới năm 1950. Đây được coi là một trong những khu vực ở Việt Nam được người tiền sử chiếm cư từ rất sớm.


    Mẫu tem 3-3 giới thiệu “Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông”: được UNESCO công nhận ngày 07/7/2020. Công viên có diện tích 4.760 km², trải dài trên địa bàn 5 huyện: Krông Nô, Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk Glong và thành phố Gia Nghĩa thuộc tỉnh Đắk Nông, với khoảng 65 điểm di sản địa chất, địa mạo, bao gồm hệ thống gần 50 hang động với tổng chiều dài hơn 10.000 m, các miệng núi lửa, thác nước...

    Công viên địa chất Đắk Nông từ lâu đã nổi tiếng là một vùng đất đỏ trù phú với hệ sinh thái rừng nhiệt đới, nơi lưu giữ các giá trị đặc trưng về đa dạng sinh học, nhiều nét độc đáo về văn hóa, địa chất, tự nhiên cũng như dấu tích hoạt động của người tiền sử. Dung nham từ các đợt phun trào của núi lửa đã bao phủ đến một nửa diện tích của vùng đất này, hình thành nên vùng đất đỏ bazan rộng lớn trù phú, màu mỡ.

    Cho đến cách đây 10.000 năm, núi lửa vẫn còn hoạt động ở khu vực này, tạo nên hệ thống hang động núi lửa độc đáo, đồ sộ nhất Đông Nam Á. Đặc biệt, nhiều dấu tích cư trú của người tiền sử có niên đại hàng chục nghìn năm đã được tìm thấy trong các hang động này.



    Mẫu bloc: giới thiệu phong cảnh hùng vĩ của cao nguyên đá Đồng Văn (đèo Mã Pí Lèng, hẻm vực Tu Sản, sông Nho Quế).

    Bộ tem có khuôn khổ tem 46 x 31 (mm), khuôn khổ blốc 120 x 80 (mm), do họa sĩ Nguyễn Du (Tổng công ty Bưu điện Việt Nam) thiết kế, được cung ứng trên mạng lưới bưu chính từ ngày 30/10/2021 đến ngày 30/06/2023.

    Các hình ảnh đã được các tác giả Ngô Huy Hòa, Nguyễn Sơn Tùng, Trần An cung cấp và cho phép sử dụng trên tem bưu chính thông qua Ban quản lý các công viên địa chất toàn cầu UNESCO tại Việt Nam.

    HL (ictnews)

     QField, MerginMap là 2 ứng dụng trên điện thoại để anh em làm việc thực địa rất hiệu quả, lấy thông tin từ dự án trên QGIS.

    Với các lớp dữ liệu cần thu thập, ta tạm chia làm 2 loại chính là dạng điểm và dạng đường. Dạng vùng ít dùng hơn vì ta ít đi đo diện tích bằng điện thoại, nó sai số lớn.


    - Đối tượng điểm: 

    Sẽ có các hàm sau để tự động lấy dữ liệu khi đi làm:

    Tọa độ X: $X; Y; $Y,

    VỚI Qfield dùng hàm lấy cao độ Z: z(@position_coordinate)

    Với MerginMap: hàm lấy Z là: @position_altitude

    Ngoài ra, có thể dùng các hàm làm tròn như exel để làm tròn số: Round()
    Có thể đặt khoảng cách tự động tạo điểm (vd cách 50m tạo 1 điểm khảo sát).

    - Đối tượng đường: 

    Hay dùng nhất là hàm $length, sẽ trả độ dài đường đi được ra mét. 

    Ngoài ra có thể đặt mặc định các thuộc tính: tên điểm. 

    Ngoài các hàm như trên thì ta có thể join (link các layer với nhau). Tất nhiên để link được thì cần có 1 trường chung, các trường khác nó sẽ join vào layer đích.

    - Trong nội bộ layer, ta cũng có thể dùng hàm tính để khi có số liệu thì trường đó sẽ tự động điền. VD số liệu điều tra dân cư năm 2024 là 1 cột (2024), sau ta làm năm 2025 thì là cột 2025. Ta sẽ tạo 1 cột (trường) là chênh lệch, sẽ có thể gán hàm trừ "-" (2025-2024). Kết quả khi thực địa cột này sẽ tính ra giá trị chênh lệch luôn!. 

    Các toán tử khác có thể dùng để update tự động cho 1 trường (cột): +, - , *, / v.v.v


    Các thiết đặt cho Qfield hay MerginMap đều có thể làm trong mục thẻ Attributes Form và thẻ Joins (trên QGIS). 

    Thẻ Joins (trên QGIS) là join các layer khác trên bản đồ (QGIS) nhé.

    - Nhớ làm xong ở thực địa là bấm Sync luôn khi có wife (WIFI) nhé!@

    Thứ Hai, 24 tháng 11, 2025

     

    QGIS v/s MapInfo (or AutoCad) - Differences in Distance Measurements.

    Các bạn mới sử dụng QGIS có thể gặp trường hợp: Diện tích tính được trong QGIS khác với diện tích tính trong Mapinfo, hoặc tính trong Autocad. Chiều dài đo tự động cũng có thể khác nhau.

    Nguyên nhân là do hệ chiếu mặc định trong project bạn đang dùng. QGIS nếu để mặc định là nó tính diện tích hoặc độ dài theo phép chiếu cầu hoặc chiếu wgs84, mà có phép chiếu ít biến đổi hình dạng thì lại bị biến đổi diện tích. Trong Cad thì tính diện tích phẳng Decas, nên nếu tính diện tích khu vực rộng lớn >1km2 hoặc hơn thì sai số sẽ lớn. Mapinfo cũng có lựa chọn tính diện tích cầu, hoặc phẳng.
    Trong QGIS, cần thiết lập lại thông số thì khi tính diện tích vùng nó mới về diện tích phẳng.
    - Vào Menu - Project/ Properties (Ctr+Shif+ P):


    Góc trái trên cùng chọn tab General/ để ý chỗ Measurement: Elipsoid chọn None/ Planimetric.
    Bấm OK thoát ra là xong. Giờ thử tính lại diện tích vùng (công thức $area), chiếu dài đường xem nhé!